Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Quyền ly hôn sau khi nuôi con


Quyền nuôi con sau khi ly hôn
Sau khi ly hôn việc mà các đôi vợ chồng thường xảy ra tranh chấp chính là giành quyền nuôi con sau ly hôn. Luật triệu sơn sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề tranh chấp quyền nuôi con như sau:
Căn cứ Khoản 2 – Điều 92 – Luật HN&GĐ, Căn cứ điểm D – Mục 11 – NQ 02/2000/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Luật HN& GĐ thì để được quyền nuôi con vợ chồng có hai cách để giải quyết sau đây:
Cách thứ 1:
 - Vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau để vợ hoặc chồng là người trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc con và người kia có nghĩa vụ cấp dưỡng.
  Cách thứ 2:
 - Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án quyết định người được trực tiếp nuôi con.

Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần và phải xem xét đến nguyện vọng của con muốn được sống trực tiếp với ai để quyết định việc trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng.

Cụ thể Tòa án sẽ xem xét một cách tổng hợp trên 03 (ba) phương diện sau đây để quyết định việc trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng:

Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn… của cha mẹ

Nguyện vọng của con: Con mong muốn được ở với ai (chỉ áp dụng với con từ đủ 9 tuổi trở lên)
Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Quý khách hàng!
-----------------------------------------------------------------------------------
LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN 
Số 5B, ngõ 57 đường Nguyễn Khánh Toàn, phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, HN.
(Phía sau Chùa Hà)
Hỗ trợ khách hàng: (04) 629 33 007/ Phòng nghiệp vụ: (04).629.33.007 – Hotline: 0988 856 399
Email: lstruongphuc@vinalaw.org/ Website:www.vinalaw.org

Tranh chấp tài sản khi ly hôn


Tranh chấp tài sản khi ly hôn
Tranh chấp tài sản khi ly hôn là tranh chấp diễn ra phổ biến và gay gắt nhất trong quan hệ hôn nhân. Thực tế cho thấy, các tranh chấp về tài sản đều khá phức tạp trong các vấn đề:
 
1. Xác định tài sản là nhà đất thuộc sở hữu chung:
 
Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều trường hợp tài sản là nhà, đất được Tòa án chia cho vợ, chồng không phải tài sản chung mà là tài sản được cho tặng riêng trong thời kì hôn nhân nhưng Tòa án vẫn tiến hành thủ tục chia mỗi người được hưởng một nửa theo quy định của Luật hôn nhân gia đình với lý do đương sự không đưa ra được căn cứ chứng minh cho việc tặng, cho nhà đất. Sai sót này dẫn đến việc lấy tài sản của người này chia cho người khác. Ngoài ra việc định giá nhà đất không đúng và chỉ phân chia hiện vật cho một bên là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài. Cá biệt, có một số vụ án giá nhà đất vẫn được định theo khung giá của Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có đất tranh chấp; việc định giá không có đủ các đương sự; thành phần Hội đồng định giá không đúng theo quy định của pháp luật.
 
2. Xác định khối tài sản chung không phải là nhà đất và việc phân chia hiện vật cho các bên:
 
Khối tài sản chung của vợ, chồng khó xác định được do sống chung với gia đình chồng hoặc vợ: Có những vụ án tài sản chung của vợ chồng và gia đình gồm nhiều thành viên sống chung và có nhiều loại tài sản nhưng vợ chồng không có công sức gì nhưng lại được chia phần tài sản lớn, dẫn tới tranh chấp.
 
Việc phân chia hiện vật cho các bên cũng gặp nhiều khó khăn nếu không xác định được nhu cầu sử dụng thực tế của mỗi bên tránh dẫn tới hậu quả tài sản của người này được chia nhưng người kia mới có nhu cầu sử dụng thực sự và ngược lại nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
 
Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Quý khách hàng!
-----------------------------------------------------------------------------------
LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN 
Số 5B, ngõ 57 đường Nguyễn Khánh Toàn, phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, HN.
(Phía sau Chùa Hà)
Hỗ trợ khách hàng: (04) 629 33 007/ Phòng nghiệp vụ: (04).629.33.007 – Hotline: 0988 856 399
Email: lstruongphuc@vinalaw.org/ Website:www.vinalaw.org

Ly hôn có yếu tố nước ngoài


Thủ tục ly hôn đơn phương có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại Điều 85 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn” và “Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn”. Tòa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Tình trạng của vợ chồng trầm trọng;
- Đời sống chung không thể kéo dài;
- Mục đích của hôn nhân không đạt.
Nếu một bên vợ hoặc chồng đơn phương xin ly hôn, thì thủ tục ly hôn theo yêu cầu của một bên được tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền
- Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;
- Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;
- Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.
Theo đó, hồ sơ khởi kiện xin ly hôn có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện gồm có các giấy tờ sau đây:
- Đơn xin ly hôn (theo mẫu);
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính); Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì bạn phải xin xác nhận của UBND cấp tỉnh nơi đã đăng ký kết hôn.
- Sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân (bản sao chứng thực);
- Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực - nếu có);
- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung
Về thẩm quyền giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 33, 34, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 xác định thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ.
Thứ nhất, xác định thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc về tòa án nhân dân cấp tỉnh hay cấp huyện
Căn cứ Điều 33, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án theo cấp “Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.” thì những vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài (có người ở nước ngoài hoặc có tài sản ở nước ngoài) thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố giải quyết. Song, theo quy định về tăng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp huyện của Ủy ban thường vụ quốc hội trong Nghị quyết về việc giao thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho các Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh số 724/2004/NQ-UBTVQH11 và số 1036/2006/NQ-UBTVQH11 thì một số Tòa án nhân dân cấp huyện, xã, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cũng có thẩm quyền giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngòai có đương sự hoặc có tài sản ở nước ngoài.
Đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài được giải thích theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành những quy định trong “Phần thứ nhất” Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 như sau:
“4.1. Đương sự ở nước ngoài bao gồm:
a) Đương sự là cá nhân không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam mà không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự; đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự hoặc đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án.
Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha, mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, thì theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam.
b) Cơ quan, tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự.
4.2. Tài sản ở nước ngoài
Tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự ở ngoài biên giới lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự.
4.3. Cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài.
Cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài là trường hợp trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cần phải tiến hành một hoặc một số hoạt động tố tụng dân sự ở nước ngoài mà Tòa án Việt Nam không thể thực hiện được cần phải yêu cầu cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị Tòa án nước ngoài thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.”
Thứ hai, xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngòai theo lãnh thổ
Căn cứ khoản 1, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ như sau:
"1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;"
Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 36, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu như sau:
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
a)...
b)...
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
Như vậy, nếu chồng chị có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân nơi chồng chị cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết. Nếu chồng chị không có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân nơi chị cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết.
Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Quý khách hàng!
-----------------------------------------------------------------------------------
LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN 
Số 5B, ngõ 57 đường Nguyễn Khánh Toàn, phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, HN.
(Phía sau Chùa Hà)
Hỗ trợ khách hàng: (04) 629 33 007/ Phòng nghiệp vụ: (04).629.33.007 – Hotline: 0988 856 399
Email: lstruongphuc@vinalaw.org/ Website:www.vinalaw.org

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Phân chia tài sản khi ly hôn


Phân chia tài sản khi khi ly hôn
Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Tài sản chung của vợ chồng Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Đối với tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

Tài sản riêng của vợ, chồng Theo quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:


Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng từ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.

Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn Khoản 1 Điều 95 và khoản 1 Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó. Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó. 
Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Quý khách hàng!
-----------------------------------------------------------------------------------
LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN 
Số 5B, ngõ 57 đường Nguyễn Khánh Toàn, phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, HN.
(Phía sau Chùa Hà)
Hỗ trợ khách hàng: (04) 629 33 007/ Phòng nghiệp vụ: (04).629.33.007 – Hotline: 0988 856 399
Email: lstruongphuc@vinalaw.org/ Website:www.vinalaw.org

Hướng dẫn thủ tục ly hôn

Khi cuộc sống hôn nhân trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài thì một bên vợ hoặc chồng có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết cho ly hôn. Pháp luật Việt Nam quy định trình tự thủ tục, thời hạn giải quyết, thẩm quyền giải quyết việc đơn phương ly hôn giữa vợ chồng cụ thể như sau:
 1. Trình tự xin ly hôn
 Bước 1: Quý khách nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND quận/huyện nơi bị đơn (chồng hoặc vợ) đang cư trú, làm việc;
 Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho Quý khách;
 Bước 3: Quý khách nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;
 Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.
 2. Thời gian giải quyết
 Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án;
 Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử./. 
3. Hồ sơ khởi kiện xin ly hôn gồm có: (Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện)
 - Đơn xin ly hôn (theo mẫu);
 - Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);
 - Sổ hộ khẩu, CMTND (bản sao chứng thực);
 - Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực - nếu có);
 - Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao chứng thực);
Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Quý khách hàng!
-----------------------------------------------------------------------------------
LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN 
Số 5B, ngõ 57 đường Nguyễn Khánh Toàn, phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, HN.
(Phía sau Chùa Hà)
Hỗ trợ khách hàng: (04) 629 33 007/ Phòng nghiệp vụ: (04).629.33.007 – Hotline: 0988 856 399
Email: lstruongphuc@vinalaw.org/ Website:www.vinalaw.org

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Hãy xem người Nhật nói gì về người Việt Nam

Anh Phạm Trọng Thức, hiện đang làm việc tại một đại sứ quán nước ngoài ở Hà Nội đã gửi tới chúng tôi câu chuyện người thật việc thật từ một công nhân 40 tuổi (KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội), phần nào sẽ cho chúng ta câu trả lời Người Nhật đánh giá thế nào về người Việt Nam.

Muốn biết người Nhật thật sự đánh giá thế nào về Việt Nam thì phải nghe những câu chuyện của những người lao động trực tiếp.
Còn các nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sỹ, chính trị gia, các nhà ngoại giao, doanh nhân Việt Nam thường chỉ nghe được những lời lẽ ngoại giao từ những người đồng nhiệm với họ phía Nhật Bản nên chưa chắc đã biết được người Nhật thực bụng nhìn vào Việt Nam thế nào.
Chẳng hạn như thế này, một công nhân làm cho một công ty Nhật ở Việt Nam kể lại khi một kỹ sư Nhật về nước ông ấy không ngại ngần nói với người công nhân Việt Nam: “Người Việt các anh sẽ muôn đời khổ. Đấy là vì các anh chỉ biết nghĩ đến những cái lợi lộc nhỏ của cá nhân mà không biết nghĩ đến cái lợi lớn của chung”.
Rồi viên kỹ sư minh hoạ: “Một cái vít chúng tôi phải mang từ Nhật sang giá 40.000đ mà rơi xuống đất thì công nhân Việt Nam các anh thản nhiên dẫm lên hoặc đá lăn đi mất vì nó không phải của các anh. Nhưng các anh đánh rơi điếu thuốc lá đang hút dở giá 1.000đ thì các anh sẵn sàng nhặt lên và hút tiếp cho dù nó bị bẩn chỉ vì nó là của các anh. Hay như cuộn cáp điện chúng tôi nhập về giá 5triệu/m, nhưng các anh cắt trộm bán được có vài trăm nghìn/m. Tất cả những việc làm đó mang lại chút lợi lộc cho các anh nhưng gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp vì chúng tôi phải nhập bổ sung hoăc nhập thừa so với cần thiết”.
Còn lái xe của viên kỹ sư đó thì được nghe ông ấy tặng quà có giá trị và được nghe ông ấy “tâm sự” như sau: “Tôi rất cảm ơn anh lái xe an toàn cho tôi suốt 5 năm qua. Vì anh là người bảo đảm mạng sống của tôi nên anh làm gì tôi cũng chiều nhưng anh đừng tưởng anh làm gì sai mà tôi không biết. Anh đưa đón tôi ra sân bay quãng đường chỉ hơn 30km anh khai là hơn 100km tôi cũng ký, anh khai tăng việc mua xăng, thay dầu tôi cũng ký là vì tôi cần anh vui vẻ lái xe để tôi được an toàn. Nhưng anh và các công nhân Việt Nam đừng tưởng là các anh vặt được người Nhật. Các anh nên biết rằng lẽ ra chúng tôi có thể trả lương cao hơn hoặc tăng lương nhiều hơn cho các anh. Nhưng đáng phải tăng lương cho các anh 500.000đ thì chúng tôi chỉ tăng 200.000đ. Còn 300.000đ chúng tôi phải giữ lại để chi trả bù đắp cho những trò vụn vặt hay phá hoại của các anh. Cuối cùng là tự các anh hại các anh thôi. Còn chúng tôi cũng chỉ là lấy của người Việt cho người Việt chứ chúng tôi không mất gì cả”.
Phạm Trọng Thức
(Ghi theo lời kể của anh P.V.M, 40 tuổi, công nhân tại một doanh nghiệp Nhật Bản (khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Hà Nội))

Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Người dân Hà Nội xuống đường phản đối Trung Quốc



Người dân Hà Nội xuống đường yêu cầu Trung Quốc rút khỏi vùng biển Việt Nam
Hơn 10h sáng nay, dòng người từ các ngả đường vẫn tiếp tục hướng về khu vực trước cổng Đại sứ quán Trung Quốc. Các biểu ngữ “Người dân đồng lòng cùng Chính phủ, chống xâm lược bảo vệ tổ quốc”, “Cực lực phản đối và yêu cầu Trung Quốc dừng ngay các hành động bất hợp pháp tại vùng biển của Việt Nam”, “Hoàng Sa Việt Nam, Trường Sa Việt Nam”… được giơ cao.
“Tôi đến đây để biểu lộ tình yêu tổ quốc, cùng nhân dân cả nước bảo vệ lãnh thổ ông cha để lại. Chúng tôi cùng đề nghị Trung Quốc dừng ngay các hành động bất hợp pháp, rút ngay khỏi vùng biển của Việt Nam”, bác Hồng nhà ở Hoàn Kiếm chia sẻ.
Người dân Hà Nội xuống đường yêu cầu Trung Quốc rút khỏi vùng biển Việt Nam

Người dân Hà Nội xuống đường yêu cầu Trung Quốc rút khỏi vùng biển Việt Nam

Người dân Hà Nội xuống đường yêu cầu Trung Quốc rút khỏi vùng biển Việt Nam

Người dân Hà Nội xuống đường yêu cầu Trung Quốc rút khỏi vùng biển Việt Nam

Người dân Hà Nội xuống đường yêu cầu Trung Quốc rút khỏi vùng biển Việt Nam

 
Gần 10h sáng nay, dòng người khéo đến khu vực Đại sứ quán Trung Quốc ngày càng đông. Dòng người đến biểu lộ tình yêu tổ quốc gồm đủ các thành phần, từ các cụ già, thanh niên, nam nữ. Hàng ngàn người tay cầm cờ tổ quốc, hoạt động có trật tự, cùng đồng thanh yêu cầu Trung Quốc rút khỏi vùng biển của Việt Nam.

Dòng người kéo đến khu vực trước Đại sứ quán Trung Quốc ngày càng đông
Dòng người kéo đến khu vực trước Đại sứ quán Trung Quốc ngày càng đông

Thành phần tham gia đủ các lứa tuổi từ cụ già đến thanh niên, nam nữ, các cháu nhỏ

Thành phần tham gia đủ các lứa tuổi từ cụ già đến thanh niên, nam nữ, các cháu nhỏ
Thành phần tham gia đủ các lứa tuổi từ cụ già đến thanh niên, nam nữ, các cháu nhỏ

Người dân biểu lộ tình yêu tổ quốc
Người dân biểu lộ tình yêu tổ quốc

Băng rôn, khẩu hiệu phản đối và yêu cầu Trung Quốc dừng ngay các hành động phi pháp
Băng rôn, khẩu hiệu phản đối và yêu cầu Trung Quốc dừng ngay các hành động phi pháp

Người dân Hà Nội diễu hành yêu cầu Trung Quốc rút khỏi vủng biển Việt Nam
Ngay từ sáng sớm hàng ngàn người kéo đến trước Đại sứ quán Trung Quốc phản đối nước này đặt giàn khoan trái phép ở vùng biển Việt Nam

Người dân khẳng định biển Đông là của Việt Nam từ ngàn đời nay
Người dân khẳng định biển Đông là của Việt Nam từ ngàn đời nay

Người dân biểu lộ tình yêu với đất nước

Người dân biểu lộ tình yêu với đất nước
Người dân biểu lộ tình yêu với đất nước

Dòng người phản đối Trung Quốc
Dòng người phản đối Trung Quốc
Tiếp tục cập nhật...

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014

Trước giờ tuyên án: Dương Chí Dũng sẽ thoát án tử?

14h chiều nay (7/5), Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội sẽ tuyên án đối với Dương Chí Dũng và các đồng phạm trong vụ án tham ô và cố ý làm trái quy định của nhà Nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines).
Dự kiến ban đầu, phiên xử phúc thẩm diễn ra trong ba ngày từ 22 đến 24/4. Tuy nhiên, chiều 25/4, thay vì tuyên án như đã tuyên bố trước đó, chủ tọa Nguyễn Văn Sơn quyết định quay lại phần xét hỏi. Như vậy, phiên tòa đã kéo dài gấp đôi số ngày xét xử dự kiến và nghị án kéo dài qua kỳ nghỉ lễ 1/5.
PLO xin điểm lại những diễn biến chính trong sáu ngày xét xử vừa qua.
Các bị cáo được nói lời sau cùng… hai lần
Cũng do việc HĐXX quyết định xét hỏi lại nên tại phiên xử phúc thẩm, các bị cáo có tới hai lần được… nói lời sau cùng. Trong cả hai lần này, Cựu Chủ tịch HĐQT Vinalines Dương Chí Dũng đều tha thiết xin được sống:
“Bị cáo trông cậy vào từ tâm đức độ, quyết định chính xác, sự công minh của HĐXX để không xảy ra tình trạng “quýt làm cam chịu”. Nếu chưa làm rõ được sự thật bị cáo thực sự bị oan, bị cáo chỉ xin cho bị cáo được sống. Nếu có tội, bị cáo có chết cũng phải chịu, nhưng oan mà chết thì không nói với ai được”- Bị cáo Dũng nói.
Trước giờ tuyên án: Dương Chí Dũng sẽ thoát án tử? - 1
Bị cáo Dương Chí Dũng. Ảnh TN
Bị cáo Dương Chí Dũng phủ nhận hoàn toàn việc nhận 10 tỷ đồng “chia chác” từ số tiền “lại quả” 1,666 triệu USD (tương đương 28 tỷ đồng) sau khi thương vụ mua bán ụ nổi 83M hoàn tất.
Đối với tội cố ý làm trái, Dương Chí Dũng cho rằng, với cương vị là Bí thư, Chủ tịch HĐQT, để xảy ra sai phạm tại Vinalines (gây thiệt hại cho nhà nước gần 367 tỷ đồng-PV), bị cáo nhận tội, không chối cãi. Tuy nhiên, Dương Chí Dũng khẳng định mình không cố ý, chỉ là nôn nóng muốn làm điều gì đó cho ngành nhưng không thành công mà thành tội, “đó cũng là điều đau đớn với bị cáo”. Dũng hứa sẽ vận động gia đình bán hết tài sản, kể cả những tài sản không bị kê biên, để bồi thường, khắc phục hậu quả.
Bị cáo Mai Văn Phúc kháng cáo kêu oan đối với cả hai tội danh: tham ô và cố ý làm trái.
Cũng như Dương Chí Dũng, Mai Văn Phúc phủ nhận hoàn toàn cáo buộc nhận 10 tỷ đồng từ Trần Hải Sơn (nguyên TGĐ Công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines). Phúc khai mình chỉ duy nhất nhận chai rượu và phong bì hai triệu đồng Sơn biếu nhân dịp tết.
Trước giờ tuyên án: Dương Chí Dũng sẽ thoát án tử? - 2
Bị cáo Mai Văn Phúc. Ảnh: TN
Cựu TGĐ cho rằng, nếu có tội thì Phúc phạm tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, chứ không phải là “cố ý làm trái”. Tại tòa, khi nói lời sau cùng, Phúc cho rằng mình bị oan và là “nạn nhân của vụ án này”.
Luật sư: Chứng cứ buộc tội tham ô “yếu”
Trong số bốn bị cáo bị cáo buộc tham ô, hai bị cáo thành khẩn nhận tội ngay từ đầu là Phó TGĐ Trần Hữu Chiều và Trần Hải Sơn. Trong đó, Trần Hải Sơn được coi là “mắt xích” quan trọng, là người làm thủ tục nhận khoản tiền 1,666 triệu USD từ công ty AP- Singapore (Công ty môi giới trong việc mua bán ụ nổi) chuyển về cho Công ty Phú Hà (của em gái Sơn). Lời khai của Sơn sau này cũng là căn cứ quan trọng để buộc tội tham ô đối với Dũng và Phúc.
Sơn khai, theo chỉ đạo của Dũng và Phúc, số tiền 1,666 triệu USD được chia ba phần: Dũng 10 tỷ, Phúc 10 tỷ, phần còn lại của Sơn.
Trước giờ tuyên án: Dương Chí Dũng sẽ thoát án tử? - 3
Bị cáo Trần Hữu Chiều. Ảnh: TN
Trần Hữu Chiều là người được Sơn tự ý cho 340 triệu vì Sơn thấy Chiều là người tốt, sống đức độ. Tại tòa, luật sư của Chiều cho rằng Chiều cũng chỉ là nạn nhân, là kẻ nhận “bố thí” số tiền nói trên.
Trong khi đó, luật sư của Dũng và Phúc thì cho rằng lời khai của Sơn có nhiều mâu thuẫn. Tại sao nhiều người “có công” trong việc mua bán ụ nổi nhưng ngoài Dũng và Phúc chỉ có Sơn được hưởng số tiền “lại quả”. Những luật sư này cũng cho rằng, không có chứng cứ trực tiếp chứng minh việc nhận tham ô của Dũng và Phúc. Khoản tiền 1,666 triệu USD là có thực, và chứng cứ chỉ dừng ở việc số tiền đó được chuyển về cho công ty Phú Hà. Việc đưa tiền cho Dũng và Phúc chỉ là lời khai của Sơn, ngoài ra không có nhân chứng hay chứng cứ nào chứng minh việc này.
Luật sư cho rằng, khi sử dụng các chứng cứ là lời khai của Sơn và các em gái Sơn (là nhân chứng tham gia việc chuẩn bị tiền) cần thận trọng vì Sơn cũng là bị cáo trong vụ án này. Đứng trước tình huống bị cáo Sơn đang phải đối mặt với một bản án, một hình phạt nghiêm khắc thì liệu các nhân chứng có khai báo có lợi cho người thân của mình hay không?
Viện Kiểm sát: Đủ căn cứ buộc tội
Trong phần tranh luận, đại diện VKS cho biết, đây là vụ án điều tra truy xét, hành vi phạm tội xảy ra từ 2008 nhưng đến 2012 mới được phát hiện và điều tra nên có nhiều khó khăn.
Đại diện VKS cũng thừa nhận có mâu thuẫn trong lời khai của Sơn về thời điểm, địa điểm đưa tiền. Đây cũng là điều dễ hiểu, vì thời gian diễn ra đã lâu. Vụ án cũng không có nhân chứng, vì đơn giản, đã là “hành vi đen” thì tránh đưa có nhiều người, cũng không để ý đến đặc thù xung quanh, mong nhanh nhanh chóng chóng rồi“chuồn”.
Cũng theo công tố viên, việc chỉ đạo chia chác khoản lại quả là có nhưng các bị cáo không thừa nhận. Công tố viên phân tích, một Chủ tịch HĐQT, một Tổng giám đốc, một Phó tổng,  Sơn là người được tin tưởng. Chỉ có Chiều thừa nhận được bồi dưỡng. “Đặt giả thuyết, không biết, không bàn, không chia thì chí ít Dũng và Phúc cũng phải được bồi dưỡng chứ? Với quan hệ cấp trên cấp dưới, nếu Sơn, Chiều là người được hưởng tiền lại quả mà lại không có Dũng, Phúc thì thực tế có xảy ra việc này không?”- đại diện VKS nói.
Công tố viên khẳng định: “có đủ căn cứ và niềm tin về lời khai của bị cáo Sơn về khoản tiền đã chia và vì vậy chúng tôi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố”.
Xuất hiện chứng cứ mới từ Nga
Ngày xét xử thứ năm (28/4), HĐXX đã công bố những tài liệu phía Nga cung cấp theo yêu cầu của VKSND tối cao. Tài liệu gồm xác minh về công ty Nakhodka (chủ sở  hữu ụ nổi 83M); hợp đồng mua bán ụ nổi giữa công ty Nakhodka và Công ty AP;  lời khai của nhân chứng Prikhod Alexsey Adrevicha (đại diện của Global Success (GS)- công ty môi giới của Nga…
Trước đó, trong quá trình xét xử, các luật sư đã nhiều lần đề nghị tòa trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, chờ kết quả xác minh từ phía Nga xác định ai là người của Vinalines đứng ra thỏa thuận về số tiền “lại quả” 1,666 triệu USD. Tuy nhiên, trong số tài liệu thu thập được lại không có thông tin nào về việc này.
Mặt khác, các luật sư cũng đồng loạt phủ nhận tính pháp lý của tài liệu này vì cho rằng nó không được hợp thức hóa lãnh sự; nhiều tài liệu không được công chứng dịch thuật. Mặt khác, trong tài liệu khái niệm dịch sai, ví dụ “Viện kiểm sát” dịch thành “Viện kiểm soát” khiến các luật sư cũng nghi ngờ về tính chính xác trong dịch thuật.
Đại diện VKS thì cho rằng, không cần những tài liệu này cũng đã có đủ bằng chứng để buộc tội các bị cáo, nếu không, VKS đã không truy tố các bị cáo.
Có tội hay không là do… cái ụ nổi
Việc xác định ụ nổi có phải là tàu biển hay không liên quan trực tiếp đến việc xác định trách nhiệm hình sự của một bị cáo là đăng kiểm viên và nhóm bị cáo là cán bộ hải quan Khánh Hòa. Nếu ụ nổi là tàu biển thì ụ 83M không được phép nhập khẩu vào Việt Nam vì tại thời điểm nhập khẩu đã 43 tuổi (VN quy định không được nhập tàu quá 15 tuổi) và như vậy nhóm bị cáo này bị truy tố là đúng tội.
Tuy nhiên, bị cáo Lê Văn Dương cho biết đã nhiều lần làm đơn kêu oan gửi Bộ GTVT (cơ quan chủ trì soạn thảo Bộ luật Hàng hải), đồng thời kiến nghị Bộ mở cuộc hội thảo khoa học bàn việc ụ nổi có phải tàu biển hay không? Bộ đã có văn bản phúc đáp (lần thứ 3) khẳng định ụ nổi không phải là tàu biển.
Tại tòa, ông Trần Thái Sơn (Bộ Tài chính), một trong năm giám định viên trong tổ giám định liên ngành thực hiện giám định tư pháp vụ án này cho biết: Căn cứ vào Công ước HS (mà VN là thành viên) thì ụ nổi có tên là ụ nổi, có mã số khác mã số của tàu biển. “Khi tranh luận, chúng tôi đặt giả thuyết nếu trùng thì các mã số phải trùng, nhưng ở đây các mã số khác nhau. Khoản 2 điều 2 Bộ luật Hàng hải quy định nếu luật này mâu thuẫn với công ước quốc tế thì phải tuân theo công ước quốc tế”.
Từ đó, ông Sơn cho rằng các cán bộ hải quan đã không làm sai khi cho thông quan ụ nổi 83M.
Như vậy, thực sự các bị cáo Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc và các bị cáo nhóm hải quan có thực sự oan, ai có tội, ai sẽ được giảm án… sẽ sáng tỏ khi tòa tuyên án vào 14 giờ chiều nay.
Theo Thu Nguyệt (Pháp luật TP.HCM